Sunday, September 20, 2015

THẬP NHỊ THỜI QUÂN

I- THẬP NHỊ THỜI QUÂN

A- PHẦN GIỚI THIỆU:

“Hiệp-Thiên-Đài là nơi Thầy ngự, cầm quyền Thiêng Liêng mối Đạo, hễ Đạo còn thì Hiệp-Thiên-Đài còn”.
“Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền Hộ-Pháp Chưởng quản, tả có Thượng-Sanh, Hữu có Thượng-Phẩm, phần của HỘ PHÁP Chưởng quản về Pháp” (PCT)
   
   
Dưới quyền HỘ-PHÁP có 4 vị:
-Tiếp-Pháp - Khai-Pháp
- Hiến-Pháp - Bảo-Pháp
Thượng-Phẩm thì quyền về Đạo, dưới quyền là:
- Tiếp-Đạo - Khai-Đạo
- Hiến-Đạo - Bảo-Đạo
Dưới quyền Thượng-Sanh có 4 vị Thời quân chi Thế:
- Tiếp-Thế - Khai-Thế
- Hiến-Thế - Bảo-Thế
Cả thảy 12 vị Thời-quân còn gọi là Thập Nhị Chơn Quân

NGƯỠNG NGUYỆN
THẬP NHỊ THỜI QUÂN

 




Ngưỡng nguyện: THẬP NHỊ THỜI QUÂN thể đắc háo sanh Đại đức: Bác-ái, Công-bình, vận chuyển Huyền diệu Thần bút, thường giáng oai linh hộ trì bố hoá chư Đệ-tử trí não quang minh, tinh thần mẫn huệ, thừa kế đại chí bảo thủ chơn truyền, thật hành NHƠN NGHĨA tế độ chúng sanh hiệp đồng chủng tộc, huynh đệ nhứt gia, cộng hưởng thái bình, thanh nhàn hạnh phước.
(Lòng sớ dâng cúng Thập Nhị Thời Quân)




Lời phủ dụ của ĐỨC HỘ PHÁP trong dịp các Cơ quan chúc xuân Đức Ngài, Ngày 1 tháng Giêng Ất Mùi.
“Thưa cùng Thánh Thể Đức Chí-Tôn, các Chức sắc Thiên Phong Nam, Nữ Lưỡng Phái, con cái yêu dấu của Đại Từ Phụ, hôm nay Bần Đạo lấy làm hân hạnh nhờ hồng ân của Đức Chí-Tôn ban bố một kiếp sống hữu hạnh, hữu phước được ngộ Đạo và Qua có một điều cần nói cho toàn con cái Đức Chí-Tôn hiểu rõ.
Trước khi mở Đạo Đức Chí-Tôn có nói: Nếu ngày nào có mở một nền Tôn Giáo nào mà cái hạnh phúc ấy ta hưởng đặng bao nhiêu đi nữa cũng chưa có thú vị, vì cớ cho nên Đức Chí-Tôn mới lấy Đạo nhà của chúng ta, Đạo Tổ Phụ của chúng ta, đặng lập nên nền Tôn Giáo Quốc Tế, cái vui sướng của Bần Đạo hơn hết là chỗ đó. Dầu cho làm một vị Giáo chủ cho nền Đạo Quốc Tế đi nữa thì xương thịt máu mủ tâm hồn, khí phách, chí hướng của Bần Đạo đều là diệt hết hỏi chẳng nhờ cả ân đức của Tổ Tiên ta để lại thì làm sao hôm nay cả toàn một sắc dân nhỏ yếu nơi cõi Đông Á nầy hưởng được một đặc ân vô đối? Nội bao nhiêu đó cũng thấy cả nòi giống ta phải can đảm hy sinh trọn kiếp sanh của mình đặng đền ơn tri ngộ của Đấng tối cao tối trọng ấy.
Các Bạn Hiệp-Thiên-Đài! Các Bạn đã có từ buổi ban sơ đến giờ, Đạo vừa mở là có các Bạn, các Bạn đã chia sớt mọi điều từ trong cảnh khổ cho đến cảnh vinh quang. Hôm nay không ai biết định hướng của Đạo hơn các Bạn, khi nãy Tiếp-Đạo có nhắc lại Bần-Đạo đã hai phen xuất dương sang Âu và Á làm cho uy tín của Đạo càng thêm cao trọng.
Các Bạn ôi! Chúng ta chỉ có hy sinh một kiếp sống đặng làm con hạc vô tội, con hạc hòa bình, biết đâu Đức Chí-Tôn cũng đem con hạc của Ngài để thế cho con bồ câu trắng mà thiên hạ gọi là con bồ câu hòa-bình, nhưng không hòa-bình gì hết, thân làm con hạc thiêng liêng ấy buộc ta phải chở Đạo đi toàn khắp mặt địa cầu. Nếu một chủng tộc nào, một sắc dân nào ở nơi mặt địa cầu nầy chưa biết Đạo là cái lỗi do nơi ta đó vậy.
Ấy vậy cái phận sự của ta tuy đã khổ não cực nhọc mà Bần-Đạo vẫn chưa thỏa nguyện về tinh thần, sự cứu khổ an ủi thiên hạ đương nhiên bây giờ các Bạn đã thấy nhơn loại đau khổ một cách quá quắt không thể tả đặng. Đau khổ về xác thân, đau khổ về tinh thần, các Bạn đã nhờ Đức Chí-Tôn giao cơ Cứu khổ ấy thì cần phải tìm phương giải khổ cho nhơn loại, thoản như buổi ban sơ Bần-Đạo không có lãnh trách vụ đặc biệt của Đạo thì các Bạn chắc cũng không để tâm cho lắm.
Đến hôm nay dầu cho thân già nầy không còn năng lực hoạt động chịu cả khổ cực như trước nhưng vẫn cố gắng, thì Bần-Đạo thấy hiển nhiên rằng: trong Cửu nhị ức Nguyên nhân họ không phải ở trong nước Việt-Nam mà thôi, ở khắp nơi trong các chủng tộc đều có họ.
Tội nghiệp thay! Bóng Đạo vừa đi tới đâu, mặc dầu Thánh Thể Đức Chí-Tôn chưa có làm phận sự mà cả tinh thần lẫn hình thể của họ đều sáng suốt chói lọi vậy.
Họ trông đợi bóng cờ cứu khổ của các Bạn lắm! Cố gắng thêm các Bạn! Vì trong đạo binh thiêng liêng theo hộ giá Đức Chí-Tôn từ khai Thiên lập Địa tới giờ, do theo Thánh Giáo Đức Chí-Tôn có nói: Bần-Đạo là Ngự Mã Thiên Quân, phẩm tước quyền hành cao trọng ấy phải làm thế nào? Để dấu hỏi!
Ta có đền đáp, có thể thay thế hình ảnh Đức Chí Tôn đặng làm phận sự của Ngài hay không? Hay một ngày kia trở về Thiêng Liêng phải thẹn khi ngó mặt Ngài. Bần Đạo nhứt định một hơi thở cuối cùng dầu cho thế nào Bần Đạo cũng quyết tùng mạng lịnh của Đại Từ Phụ làm cho con cái của Ngài đặng giảm bớt khổ não. Tưởng khi các Bạn cũng đồng chí hướng với Bần Đạo đó vậy.
Thưa Chư Chức Sắc Thiên Phong Nam, Nữ Lưỡng Phái đang làm việc thay thế hình ảnh của Đức Chí-Tôn, Bần Đạo xin cả Thánh Thể hãy ngó đến con cái của Ngài đang đau khổ, dốt nát về tinh thần đạo đức, họ thiếu cả tinh thần định phận cho họ, không phải định phận mà thôi, lại thiếu cả tinh thần bảo vệ cái sống của họ nữa, chúng ta ngó thấy cần phải dạy dỗ dìu dắt và an ủi họ.
Ấy vậy cả thảy Thánh Thể Đức Chí-Tôn thay thế hình ảnh của Ngài đang lo lập vị cho con cái của Ngài, hình ảnh bóng dáng của Chức Sắc Thiên Phong thay thế hình ảnh Đức Chí-Tôn không có nghĩa lý gì hết. Trọng hệ hay chăng là cái giá trị đối phẩm Thiêng Liêng cùng Chư, Thần, Thánh, Tiên, Phật mà thôi. Bần Đạo ước mong một đứa em của chúng ta lập nên phẩm vị cho thoát khỏi cái kiếp luân hồi, nếu được như vậy thì công nghiệp của chúng ta rất vĩ đại đó vậy. Huống chi giờ phút nầy cả Thánh Thể Đức Chí-Tôn đem đường cho nó, nâng đỡ nó đưa vào phẩm vị Thiêng Liêng Thần, Thánh, Tiên, Phật thì Bần Đạo tưởng không có danh dự nào bằng, không có phận sự cao trọng nào hơn.
Giờ phút nầy nó đã chịu khổ não nhiều rồi, đau khổ Đời, lại kế tiếp đau khổ Đạo, hôm nay Thánh Thể của Đức Chí-Tôn yêu ái và gởi gấm cho ta lãnh sứ mạng dìu dắt đoàn em đó vậy. Có một phương thế hay ho hơn hết mới có thể bảo vệ ta khỏi lạc lầm, phận sự ta đối đãi cùng đoàn em có một phương pháp duy nhứt là chỉ thương yêu mà thôi. Dầu cho sự thương yêu ấy có ra vẻ dại dột, ngu khờ nhục nhã thế nào đi nữa chúng ta cũng chỉ biết thương yêu mà thôi, sự thương yêu đủ với chúng ta làm, mỗi mỗi đều không cần tìm phương pháp nào khác.
Các con Phước-Thiện! Hội-Thánh Phước-Thiện của mấy con tức nhiên Hội-Thánh Hiệp-Thiên-Đài. Chúng Qua có mười mấy người, chúng Qua không có thế gì an ủi sự thống khổ của toàn thể con cái Đức Chí-Tôn cho đặng.
Chúng Qua có mười mấy người, biến thân ra mấy con, mấy con là hiện thân của chúng Qua, thay thế cho chúng Qua đặng tìm phương giải khổ cho thiên hạ làm cho ngọn Cờ Cứu Khổ của Đức Chí-Tôn giao cho chúng Qua đặng thiệt hiện ra mãi mãi.
Năm nay là năm bí yếu hơn hết mà gọi là năm hòa bình, mấy em thôi cũng tin bướng như vậy, tin hòa bình đi, hòa bình với đầu óc của mấy em, hòa bình là buổi nào mấy em an ủi cả thiên hạ đau khổ đương nhiên bây giờ đó là hòa bình của mấy em.
Thay thế hình ảnh của chúng Qua giải khổ cho thiên hạ, mấy em ngó lụng lại qua khỏi cơn thử thách của nước nhà chủng tộc rồi, trước chúng em sẽ thấy một trường thảm khổ không thể tả đặng. Nào là tật nguyền và bịnh hoạn, nào khổ não, nào truân chuyên đủ mọi điều.
Tình thế đương nhiên bây giờ, mấy em thấy trước mắt là đồng bào Bắc Việt, tội nghiệp thay! Họ bỏ cả gia nghiệp vào Nam, Qua chỉ sợ một điều trong cơn buồn tủi của họ, rồi họ sanh ra chán nản, mấy em hãy vì thiên hạ nâng đỡ binh vực giúp sức cho sự sống còn của họ, Qua sợ không biết thương rồi bạc đãi khi thị, thì nòi giống ta tủi nhục biết bao nhiêu, Qua gởi cho mấy em cái phận sự biến thân ra chúng Qua đi an ủi họ từ nhà, từ người trong cơn khổ não.
Mấy con trong Phục Quốc Hội! Những điều Thầy làm không được. Mấy con thay Thầy làm, Quân Đội cũng vậy, Phục Quốc Hội mấy con, không lẽ giờ phút nầy mấy con biểu Thầy đi ra cỡi ngựa cầm cương đặng làm thế các con? Phận sự tối yếu, tối trọng cứu dân, cứu nước, mười mấy năm các con đã hy sinh biết bao xương máu cho Tổ quốc giống nòi. Hôm nay có thể mong ước như Thầy đã mong ước từ vĩ tuyến 17 đổ vô hay đổ ra đối với tinh thần của ai đã chia rẽ, chớ tinh thần của mấy con không chia rẽ buổi nào hết. Bởi ngọn cờ Cứu khổ của mấy con, ngọn cờ Bảo Sanh Nhơn Nghĩa của mấy con đã đến nơi nào thì nơi đó gia nghiệp Thiêng Liêng của mấy con. Thầy chỉ sợ mấy con không đến nơi nào thì nơi ấy còn khổ não, thầy chỉ sợ bao nhiêu đó mà thôi, còn sự thắng lợi của cơ quan Phục Quốc Hội không lẽ Thầy đi ra làm chánh trị đương đầu với thiên hạ. Thầy là nòi giống Việt Nam, tranh đấu đặng đem tương lai cho đất Việt. Có nhiều điều các con làm đặng mà Thầy không làm đặng, các con có nhiều phương làm mà Thầy không có phương làm, thành thử thật ra từ trước đến giờ sự thâu hoạch thắng lợi đều do công nghiệp của các con chớ chẳng phải của Thầy.
Thầy bất quá chỉ có lời nói mà thôi. Đường lối của các con đi được như hôm nay là dài lắm rồi, đã được hai phần đường. Các con cố gắng thêm và sáng suốt làm thế nào cho phận sự Thiêng Liêng của các con tượng trưng hình ảnh nòi giống của các con. Các con đã tránh đặng một điều là thiên hạ cám dỗ mua chuộc các con, nên Thầy đã yên tâm, thấy Phục Quốc Hội không có cái năng lực nào mua chuộc được, nên Thầy gởi gấm cơ quan chuyển thế một phần cho tay mấy con. Thầy để lời ban khen đã mấy năm qua mọi sự đã đem thắng lợi rất nhiều, nhứt là có một điều làm cho Thầy vui hứng là cơ quan dân vụ của các con nó phù hạp thích ứng với Thầy hơn hết, các con cố gắng với đường lối dân vụ.
Đồng bào Bắc Việt! Bần Đạo đã thường nói: Mảnh đất gấm vóc của Tổ Tiên ta để lại từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, Tổ Phụ ta mua chuộc biết bao nhiêu xương máu dành để cho nòi giống. Không có mảnh đất nào là không phải của chúng ta, nên nhớ điều đó, đừng vì di cư ngoài Bắc vô rồi buồn rầu, không lo rồi sống đặng lo làm nghề nghiệp, phải cố gắng thêm nhiều hơn nữa, từ trước đến giờ lịch sử để lại chúng ta đã ngó thấy bằng cớ hiển nhiên, hễ mỗi khi có quốc nạn là mỗi khi chúng ta hiệp chủng đó vậy, để người Bắc kẻ trong Nam không biết nhau là gì, nghe giọng khác nhau, những người dốt nát tưởng đâu là người ngoại quốc, cái đó lấy làm nguy hiểm hơn hết.
Hôm nay tình cờ chúng ta được một phương pháp hiệp chủng, cả thảy đồng bào Nam cũng thế, Bắc cũng thế cố tâm một điều cần yếu hơn hết là gây tình thân ái vô biên của nòi giống Tổ Phụ để lại trong đầu óc ta hôm nay có phương thế hiệp chủng cho mạnh mẽ khắn khít, dầu cho có cực nhọc cũng cố làm, sự làm kia nó sẽ lập lại như hồi nhị Chúa Tây Sơn buổi nọ, nó đi theo tấn tuồng thống nhứt Hoàng Đồ của Chúa Nguyễn khi xưa muốn thiệt hiện thống nhứt Hoàng Đồ thì nòi giống chúng ta phải hiệp chủng thống nhứt năng lực lại.
Hại thay! Có một điều khổ não hơn hết là từ ngày nền văn minh của Tổ Phụ ta, của Quốc Đạo ta bị thiên hạ chi phối muốn có sự phân tâm của nước, của chủng tộc, vì lẽ phân tâm ấy hôm nay mới có tình trạng nầy. Nếu không có Việt Minh thì vinh diệu cho quốc sử của chúng ta biết bao nhiêu.
Đồng bào Bắc Việt hãy nhớ nơi đây là đất địa của mấy người không phải mấy người ăn tạm ở nhờ, mà là ở trong gia đình Tổ Quốc. Vậy mấy người đừng buồn thảm, cố gắng hiệp chủng với nhau thì mới mong thống nhứt Hoàng Đồ trở lại.
Bần Đạo xin để lời cầu chúc toàn thể các con của Đức Chí-Tôn đó vậy.”
Nhiệm vụ trọng yếu của Hiệp-Thiên-Đài:
Đức Hộ-Pháp nói tiếp:
“Nếu Tôi không lầm, Cơ Bút đã cho Tôi biết các Bạn Hiệp-Thiên-Đài do nơi đâu sản xuất?
- Do để giữ quyền Thiêng-liêng nên mới có 12 vị Thời quân, Thập nhị Địa chi tức là cảnh Thiêng liêng vô hình của chúng ta”.
“Ngày nay từ Âu sang Á làn sóng văn minh tràn ngập khắp nơi, vật chất lấn át tinh thần, khiến cho nền luân lý cổ truyền cõi Á-Đông phải luân lạc bởi Hạ ngươn hầu mãn nên Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng-Đế dùng Huyền diệu Cơ bút lập Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ với Tôn chỉ Qui nguyên Tam giáo Phục Nhứt Ngũ chi.
- Lấy Nho-Tông Chuyển thế
- Lấy sự Thương-yêu làm phương-pháp thực hành chánh Đạo.
- Đức Chí-Tôn quyết cứu vớt những kẻ hữu căn thoát vòng khổ hải, tránh đoạ luân hồi hầu vui hưởng môt hạnh phúc vĩnh cữu."
Đức Ngài nói tiếp:
“Đức Chí-Tôn mở Tam-Kỳ Phổ-Độ này gọi là mở Cơ-quan tận độ chúng sanh tức nhiên là lập một khoa thi sang Tam chuyển tái phục Thiêng-liêng-vị nơi cảnh vô hình, mỗi chuyển tức nhiên mỗi khoa mục của các Đẳng chơn hồn cần phải thi đoạt vị: thăng hay đoạ.
Bởi cớ cho nên Đức Chí-Tôn gọi là trường thi công quả là vậy. Đức Chí-Tôn cho Hộ-Pháp và Thập Nhị Thời Quân đến cốt yếu để mở cửa Bí pháp ấy đặng cho vạn linh đoạt vị. Cả thảy đều hiểu rằng Đức Chí-Tôn buổi mới sơ khai, chưa tạo thiên lập địa, Ngài muốn cho vạn linh đặng hiệp cùng Nhứt linh của Ngài do quyền năng sở hữu của quyền hạn Thần linh.
Ngài vừa khởi trong mình quyết định thi hành điều ấy thì Ngài nắm cái PHÁP. Trước Ngài chỉ là Pháp, vì cớ cho nên ta để PHẬT tức nhiên là Ngài, kế thứ nhì là PHÁP. Hễ nắm Pháp rồi Ngài phán đoán vạn vật thành hình, Ngài muốn vạn vật thành hình tức nhiên TĂNG. Cả vạn linh đều đứng trong hàng Tăng. Ấy vậy Pháp là chủ của vạn linh. Bởi do nơi Pháp vạn linh mới chủ tướng biến hình, do nơi Pháp mới sản xuất vạn linh; cả huyền vi hữu hình Đức Chí-Tôn tạo Đạo do nơi Pháp. Chúng ta biết Pháp thuộc về hình thể của vạn linh, vì cớ cho nên Đạo giáo minh tả rõ rệt Tam châu Bát bộ thuộc về quyền Hộ-Pháp “Tam Châu Bát Bộ Hộ-Pháp Thiên Tôn”
…Đức Hộ-Pháp đến cốt yếu đem Bát phẩm Chơn hồn thăng vị nhiều hoặc ít: có thể một đẳng cấp từ vật chất Hộ-Pháp đem lên thảo mộc; Thảo mộc đem lên thú cầm, thú cầm đem lên nhơn loại dĩ chí Phật-vị, Hộ-Pháp có thể chỉ định cho họ đặng. Bởi trong quyền ấy Đức Chí-Tôn nói trọng quyền thì trọng phạt; quyền hành nắm chẳng phải nơi mặt thế gian này mà thôi.
Hộ-Pháp và Thập Nhị Thời Quân không phải quyền tại thế gian này, quyền nơi cửa Đạo Cao Đài này, cũng không phải tại đây nữa. Bần-Đạo nói: đây là quyền Đạo Cao-Đài cả Thiêng-liêng hằng sống. (ĐHP: 1-9 Kỷ-Sửu)
Hệ trọng của Hiệp-Thiên-Đài:
Hiện trong Hội-Thánh có chia ra hai Đài hữu hình là Cửu-Trùng-Đài và Hiệp-Thiên-Đài.
“Cửu-Trùng-Đài là cơ quan giáo hoá. Cửu-Trùng-Đài là Đời mà Hiệp-Thiên-Đài là Đạo, cho nên buộc Đời phải nương Đạo mà lập ra thiệt tướng, mới mong độ rỗi nhơn sanh chuyển cơ tạo hoá.
Cái hệ trọng là nếu không có Hiệp-Thiên-Đài thì không có Đạo. Trời đất qua chớ Đạo không qua, nhơn loại tuyệt chớ Hiệp-Thiên-Đài không tuyệt..
Hiệp-Thiên-Đài là tay vén màn bí mât cho sự hữu hình và vô vi hiệp làm một, tức là tay phàm làm cho Đạo với Đời tương đắc vậy. Vì cớ ấy mà Thầy giáng cơ buộc cả chư Môn-đệ Thầy chẳng khi nào đặng phép trái mạng lịnh của Thầy.”
Dưới đây Thầy đã nói rõ:
Thập Nhị Thời Quân là mười hai vị Thánh bên Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền của Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh Chưởng-quản.
“Thập Nhị Thời Quân đối với Thập nhị thời Thần. Các chơn-linh đến bực nào cũng phải do nơi ấy mà xuất hiện, như Thầy nắm trọn Thập nhị thời Thần vào tay rồi mới khai thiên lập địa:
- Thiên khai ư Tý.
- Địa tịch ư Sửu.
- Nhơn sanh ư Dần.
Các chơn-linh dầu nguyên-nhân hay là Hóa nhân, hễ chịu hữu-sanh thì đều nơi tay Thập Nhị Thời Quân mà siêu đọa, cũng như Thần, Thánh, Tiên, Phật nhờ Thập nhị Thời thần mà thăng giáng.
Thập Nhị Thời Quân tức là Thập nhị thời Thần tại thế đó vậy. Thập Nhị Thời Quân chia ra làm ba chi: Pháp, Đạo, Thế.
Pháp-Chánh-Truyền dạy:
* HỘ-PHÁP chưởng-quản về Pháp (chi PHÁP) dưới quyền có 4 người:
Hậu là Bảo-Pháp (Bảo-Pháp Nguyễn Trung Hậu)
Đức là Hiến-Pháp (Hiến-Pháp Trương Hữu Đức)
Nghĩa là Khai-Pháp (Khai-Pháp Trần-Duy Nghĩa )
Tràng là Tiếp-Pháp (Tiếp-Pháp Trương văn-Tràng)
Chi PHÁP lo bảo-hộ luật Đạo và luật đời, chẳng ai qua luật mà Hiệp-Thiên-Đài không biết.
* THƯỢNG-PHẨM lo về phần Đạo (chi ĐẠO) dưới quyền có 4 người:
Chương là Bảo-Đạo (Bảo-Đạo Ca-Minh Chương)
Tươi là Hiến-Đạo (Hiến-Đạo Phạm-văn Tươi.)
Đãi là Khai-Đạo (Khai-Đạo Phạm-Tấn Đãi)
Trọng là Tiếp-Đạo (Tiếp-Đạo Cao-Đức Trọng)
Chi Đạo lo về phần Đạo nơi Tịnh-Thất, mấy Thánh-Thất, đều xem-xét chư Môn-đệ Thầy, binh vực chẳng cho ai phạm luật đến khắc-khổ cho đặng.
* THƯỢNG-SANH thì lo về phần Đời (chi THẾ) dưới quyền có 4 người:
Bảo-Thế thì Phước (Bảo-Thế Lê-Thiện Phước)
Hiến-Thế thì Mạnh (Hiến-Thế Nguyễn văn Mạnh)
Khai-Thế thì Thâu (Khai-Thế Thái-văn Thâu)
Tiếp-Thế thì Vĩnh (Tiếp-Thế Lê-thế-Vĩnh)
Xem cách Thầy ban Pháp-Chánh-Truyền như trên cũng đã thấy cái lý Âm Dương trong ba Chi rồi vậy. Hai chi Pháp và Đạo (thuộc về Đạo) thì Thầy đặt tên các vị ở trước, đặt phẩm-tước sau, chỉ duy chi Thế là Đời, nên đặt tước-phẩm ở trước và tên các vị ở sau. Ấy là ngay trong một cơ-quan cũng phải đủ lý Âm Dương tương-hiệp. Có nghĩa rằng Đạo thì lo tô bồi Nhơn tước để khi đến với Thiên-Đạo thật sự chỉ là một sự hợp thức-hóa, mượn Thiên-tước làm con đường trở về Thiêng-liêng-vị mà thôi.
Còn Đời trọng cái Thiên-tước mà ít khi trau giồi Nhơn-tước. Nếu bản thân không tự trau thì khi có Thiên Tước rồi, cái Nhơn Tước không trau giồi kịp.
Bần Ðạo đã nói: “Thập Nhị Thời Quân, Thượng-Sanh, Thượng-Phẩm, Hộ-Pháp gọi là Ngự Mã Quân của Chí-Tôn. Phật Mẫu sợ Chí-Tôn tạo Ðạo không nên phải tái kiếp, nên Bà phải cho theo xuống Thập Nhị Thời Quân, phẩm tước cao trọng thay, nhưng không có gì trước mắt Phật Mẫu, tất cả con cái của Người vinh hiển sang trọng đến đâu, Người càng rầu càng lo sợ, e sang trọng ắt tự kiêu, biết đâu không hại cho tương lai vô biên của họ vì quyền tước. Cả thảy lấy triết lý ấy để răn mình. Còn bây giờ Bần Ðạo phải kết luận như sau đây: Về tới cửa của Mẹ rồi, coi như đồng sanh, đồng tử, cốt nhục tương thân, đừng để tâm khinh trọng tôn ti, làm mất khuôn mẫu của Mẹ hằng mong ước, cả thảy nam nữ cũng vậy phẩm vị bên Cửu Thiên Khai Hóa không giống như ở đây, mấy em dầu có tâm thương mến ở bên kia cũng phải nhớ nơi Bà Mẹ, ở sao cho xứng đáng là con đối với Mẹ, là anh em đối với anh em cốt nhục của mình chung một gia đình, là phải đạo."
Thầy dạy “Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành đạo. Thầy cho các con biết: Hễ trọng quyền ắt có trọng phạt”.
Đức Hộ-Pháp nói: “Còn nhứt Phật, nhị Tiên, Thập nhị Thánh tại Hiệp-Thiên-Đài thì là các Đấng hầu-hạ bên Thầy lúc trước, nay tuy xuống thế cũng cứ giữ phận hầu Thầy mà thôi”.
Thập Nhị Thời Quân đây là thuộc về cơ-quan Hiệp-Thiên-Đài, là một trong ba cơ-quan trọng yếu của nền Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Bởi:
“Hiệp-Thiên-Đài là nơi chuyên về Đạo pháp, bảo hộ luật Đời và luật Đạo, như Ngọc-Hư Cung nắm Thiên Điều tức là Ngọc-Hư-Cung tại thế mà Hộ-Pháp Chưởng quản.
“Hiệp-Thiên-Đài là cửa Trời đó vậy. Hiệp là chung với, Thiên là trời; hiệp cùng Trời tức là cửa vào đường trời, cái thang bắc cho phàm đến cùng Trời. Trong Hiệp-Thiên-Đài có Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh”
Ngày khai Đại-Đạo tại Từ-Lâm-Tự khởi ngày 15 tháng 10 năm Bính-Dần (dl 19-11-1926) Thầy ban Pháp-Chánh-Truyền cho Cửu-Trùng-Đài trước.
Qua ngày 12-1 Đinh-Mão Đức Chí-Tôn mới lập Pháp-Chánh-Truyền phong cho danh-sách 12 vị Hiệp-Thiên-Đài vào phẩm Thập Nhị Thời Quân.
Tam đầu chế Hiệp-Thiên-Đài
(Xếp theo thứ-tự của 12 con Giáp)
Thượng-Phẩm 上 品
Fr: Chef du Domaine Spirituel
Cao-Quỳnh-Cư (1888-1929)
Ngày sanh: năm Mậu-Tý (1888)
Ngày qui:: 1-3 Kỷ-Tỵ (dl 10-4-1929)
  
Thượng-Sanh 上 生
Fr: Chef du Domaine Temporel
Cao-Hoài-Sang (1901-1971)
Thọ 70 tuổi.
Ngày sanh: 29-7 Tân-Sửu (dl 11-9-1901)
Ngày qui:: 26-3 Tân-Hợi (dl 24-1-1971)
  
Hộ-Pháp 護 法
Fr: Chef suprême du Temple de l’Alliance Divine
Thế danh: Phạm-Công-Tắc
(1890-1959) Thọ 70 tuổi.
Hiệu ÁI-DÂN
Ngày sanh: 5-5 Canh-Dần (1890)
Ngày qui: 10- 4 Kỷ-Hợi.(1959)
Đức Hộ-Pháp là vị Giáo-chủ Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ Đứng đầu trong cơ-quan Hiệp-Thiên-Đài.
Ba vị trên có Tuổi lần lượt là Tý, Sửu, Dần.
Thập Nhị Thời quân tức là tuổi 12 vị này ứng với 12 con Giáp là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.Tuy tuổi tác các vị lớn nhỏ khác nhau, nhưng đặc biệt không ai trùng tuổi với ai tất cả; xếp theo thứ-tự 12 chi như trên:

Khai-Pháp 開 法
Fr: Réformateur Juridique
Trần-Duy-Nghĩa (1888-1954)
Ngày sanh: 17-8 Mậu-Tý (dl 11-9-1888)
Ngày qui 22-1 Giáp-Ngọ (dl 24-2-1954)
  
Khai-Đạo 開 道
Fr: Réformateur Religieux
Phạm-Tấn-Đãi (1901-1976)
Ngày sanh: 22-7 Tân Sửu (1901)
Ngày qui 19-2 Bính-Thìn (19-3-1976)
  
Hiến-Pháp 憲 法
Fr: Rénovateur Juridique
Trương-Hữu-Đức (1890-1975)
Ngày sanh: 2-2 Canh-Dần (1890)
Ngày qui 15-12 Ất-Mão (dl 15-02-1975)
  
Tiếp-Thế 接 世
Fr: Législateur Temporel
Thế danh: Lê-Thế-Vĩnh
Ngày sanh: Quí-Mão (1903)
Ngày qui: bị mất tích. không biết ngày qui Thiên.
  
Bảo-Pháp 保 法
Fr: Conservateur Juridique
Nguyễn-Trung-Hậu (1892-1961)
Ngày sanh: Nhâm-Thìn (1892).
Ngày qui: 7-9 Tân-Sửu (dl 16-10-1961) lúc 16g50
  
Tiếp-Pháp 接 法
Fr: Législateur Juridique
Trương-văn-Tràng (1893-1965)
Ngày sanh: 25-10 Quí-Tỵ (1893)
Ngày qui: 15-1 Ất-Tỵ (1965)
  
Hiến-Thế 憲 世
Fr: Rénovateur Temporel
Nguyễn-văn-Mạnh (1894-1970)
Ngày sanh: Giáp-Ngọ (1894)
Ngày qui:: 15-1 Canh-Tuất (1970)
  
Bảo-Thế 保 世
Fr: Conservateur Temporel
Lê-Thiện-Phước (1895-1975)
Ngày sanh: Ất-Mùi (dl 4-6-1895)
Ngày qui:17-3 Ất-Mão (dl 28-4-1975)
  
Hiến-Đạo 憲 道
Fr: Rénovateur Religieux
Phạm-văn-Tươi (1896-1976)
Ngày sanh: Bính-Thân (1896)
Ngày qui: 8-4 Bính-Thìn (1976)
Hiệu: Lạc-Nhân
  
Tiếp-Đạo 接 道
Fr: Législateur Religieux
Cao-Đức-Trọng (1897-1958)
Ngày sanh: 20-10 Đinh-Dậu (1897)
Ngày qui: 23-5 Mậu-Tuất (1958)
  
Bảo-Đạo 保 道
Fr: Conservateur Religieux
Ca-Minh-Chương (1850-1928)
Ngày sanh: Canh-Tuất (1850)
Ngày qui: 19-10 Mậu-Thìn (dl 30-11-1928)
  
Khai-Thế 開 世
Fr: Réformateur Temporel
Thái-văn-Thâu (1899-1981)
Ngày sanh: Kỷ-Hợi (1899)
Ngày qui: 2-6 Tân-Dậu (1981)
Trong số 12 Thời-quân thì người lớn tuổi nhất là Ngài Bảo-Đạo Ca-Minh Chương tuổi Canh-Tuất (1850)
Người nhỏ nhất là Tiếp-Thế Lê-Thế-Vĩnh tuổi Quí Mão (1903) đứng cuối hàng Thiên-can mang chữ Quí.
Về Thập nhị địa chi thì Pháp là Khai, nên Khai-Pháp Trần-Duy-Nghĩa đứng đầu tuổi (Mậu-Tý), Khai-Thế Thái-văn-Thâu tuổi Hợi (Kỷ Hợi), đứng cuối hàng địa chi (Hợi)
Về phép Thiên can chuyển hóa Hiến-Thế là Giáp, Tiếp-Thế là Quí.
Về phép thu-liễm của Địa chi Khai-Pháp là Tý, Khai-Thế là Hợi.
Về mặt siêu hình Đạo biến sinh ra Pháp, còn về mặt hữu-vi mỗi cái chi có trật-tự, có định-vị tức là Pháp trị, Đạo ở giữa đó là Phật.
Ngài Bảo-Pháp cầu hỏi Thầy về Thiên-mạng của Thập Nhị Thời Quân ra sao?
(tháng 7 Mậu-Thìn dl 8-1928).
Đức Chí-Tôn giáng cơ trả lời:
“Trọng lắm! Mà bây giờ chưa có chi cho lắm, chớ Thập Nhị Thời Quân ngày nào có công việc rồi, các con sẽ thấy công việc của các con lớn-lao là dường nào! Rất đỗi ở thế một viên chức nhỏ như Chủ tỉnh còn nhiều quyền hành rộng lớn thay! Huống chi các con là BẢO, HIẾN, KHAI, TIẾP cả toàn cầu, thì trách-nhậm phải làm sao thì các con cũng hiểu. Nhưng Thầy chưa phân định vì các con chưa tới kỳ hành sự đó”.
Sự mầu nhiệm của THẬP NHỊ THỜI QUÂN:
Thuở mới Khai-Đạo tại Từ Lâm tự (Gò kén), Đức Chí-Tôn phong vị Thập Nhị Thời Quân. Đúng ra là 12 vị nhưng thực tế chỉ có 11 vị, trong đó khuyết phẩm Tiếp-Đạo. Trong khi Đức Cao Thượng-Phẩm lo xây cất Tòa Thánh tạm ở làng Long Thành thì Đức Phạm Hộ-Pháp đi hành Pháp ở Kiêm Biên Tông Đạo.
Trong đàn cơ đêm 29-6-Đinh Mão (Dl. 27-7-1927) tại Thánh Thất Nam Vang do Đức Phạm Hộ-Pháp và ông Cao Đức Trọng phò loan, Đức Chí-Tôn giáng dạy và phong Thánh cho nhiều vị. Nhưng tuyệt nhiên không thấy ban chức cho ông Cao Đức Trọng nên Đức Hộ-Pháp hỏi:
- Bạch Thầy, còn Trọng, em con sao không thấy Thầy phong chức.
Đức Chí-Tôn gõ cơ đáp:
- Tắc, sao con dại quá vậy, Trọng thuộc về chi Đạo bên Hiệp-Thiên-Đài”.
Thật vậy, sau đó ông Cao Đức Trọng được Đức Chí-Tôn phong chức Tiếp-Đạo. Lúc đó, ông Trọng làm việc tại văn phòng Chưởng Khế (Nam Vang) tức là “quyền năng thiêng liêng dành cho con gà (ông Trọng tuổi Dậu) đi gáy xứ người”, một bí pháp nhiệm mầu, làm sao người phàm rõ thấu được.
Thập Nhị Thời Quân có 12 phẩm cho 12 vị khác tuổi nhau: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Người lớn tuổi nhất là Bảo-Đạo Ca Minh Chương tuổi Canh Tuất (1850), nhỏ tuổi nhất là Tiếp-Thế Lê Thế Vĩnh tuổi Quí Mão (1903). Một vị ở đầu bảng và một vị ở cuối bảng của Thập Nhị Thời Quân. Quả là một cơ mầu nhiệm của tạo hóa.
1- Khai-Pháp Trần-Duy-Nghĩa tuổi Mậu Tý (1888)
2- Khai-Đạo Phạm-Tấn-Đãi tuổi Tân Sửu (1901)
3- Hiến-Pháp Trương Hữu Đức tuổi Canh Dần (1890)
4- Tiếp-Thế Lê Thế Vĩnh tuổi Quí Mão (1903)
5- Bảo-Pháp Nguyễn Trung Hậu Nhâm Thìn (1892)
6- Tiếp-Pháp Trương văn Tràng tuổi Quí Tỵ (1893)
7- Hiến-Thế Nguyễn-văn Mạnh tuổi Giáp Ngọ (1894)
8- Bảo-Thế Lê -Thiện Phước tuổi Ất Mùi (1895)
9- Hiến-Đạo Phạm-văn Tươi tuổi Bính Thân (1897)
10- Tiếp-Đạo Cao-Đức Trọng tuổi Đinh Dậu (1897)
11- Bảo-Đạo Ca-Minh Chương tuổi Canh Tuất (1850)
12- Khai-Thế Thái-văn Thâu tuổi Kỷ Hợi (1899) .
Trong số 12 vị Thời Quân nầy, người được Đức Chí-Tôn chọn đầu tiên là Ngài Khai-Pháp Trần Duy Nghĩa, và người được chọn sau cùng là Ngài Tiếp-Đạo Cao Đức Trọng.
Tuổi và ngày giờ được ghép bởi Thập can và Thập nhị chi còn gọi là Thập nhị thời thần.
Kinh phật-Mẫu có câu:
“Thập thiên can bao hàm vạn tượng,
“Tùng địa chi hóa trưởng càn khôn."
Thập thiên can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Theo thứ tự người ta ghép một can với một chi như can thứ nhất với chi thứ nhất thành tuổi Giáp-Tý…
Tiếp tục phối hợp can thứ nhất với chi thứ mười một rồi can thứ ba với chi thứ nhất, cứ tuần tự như vậy lại đến năm Giáp-Tý nữa là đáo tuế. Trong một chu kỳ, tên mỗi can xuất hiện sáu lần (60 : 10 = 6 ) và tên mỗi chi xuất hiện năm lần ( 60 : 12 = 5). Chu kỳ này, ta gọi là lục thập giáp hay biểu Giáp Tý.
Do đó, chư vị Thập Nhị Thời Quân là đồng tử trung gian giữa Trời và Người. Nếu không có Thập Nhị Thời Quân thì cũng không có Đạo, vì chư vị là những thiên sứ phò cơ nhận lời Phật Tiên dạy. Từ trước Hiệp-Thiên-Đài đã có qui định 4 cặp cơ là:
- Hai ông Tắc, Cư là cơ lập giáo
- Hai ông Hậu, Đức là cơ lập pháp
- Hai ông Sang, Diêu là cơ truyền giáo
- Hai ông Nghĩa, Tràng là cơ bí pháp
Cơ bút là bí pháp mầu nhiệm và là quyền lực của Thiêng Liêng. Thánh ngôn chỉ có giá trị khi cầu ở Cung Đạo và đồng tử là người được Ơn Trên chỉ định. Còn những ai khác hoặc cầu ở nơi khác thì chỉ để học hỏi không có giá trị truyền Đạo.
Đức Hộ-Pháp nói:
“Cả toàn Thánh-Thể và con cái Đức Chí-Tôn đều hiểu: Trong 12 vị Thời-quân của 12 con giáp là cơ huyền bí tạo càn khôn vũ-trụ thế nào có lẽ cả tinh thần của toàn thể con cái Đức Chí-Tôn đều hiểu thấu”.
Xem đồ hình thấy có đủ Thập Nhị Thời Quân ứng với 12 con giáp, tức là tuổi của các vị này ứng với Thập nhị Thời Thần. Bát-quái đồ thiên vẫn có đủ số 15 là hình ảnh của 15 vị trong cơ-quan Hiệp-Thiên-Đài.
Xem như trên thì Tam đầu chế Hiệp-Thiên-Đài tức là ba vị Thượng-Phẩm, Thượng-Sanh, Hộ-Pháp có tuổi lần lượt là Tý, Sửu, Dần; tức là đứng đầu ba con giáp. Trong 12 vị Thời-quân cũng vậy, có ba vị: Khai-Pháp (Tý), Khai-Đạo (Sửu), Hiến-Pháp (Dần) cũng đứng đầu ba con giáp, tạo thành Tam Âm họp với Tam Dương của Tam Đầu chế Hiệp-Thiên-Đài để điều-hòa máy Âm Dương của trời đất. Tuổi tác các vị này quan-hệ đối với cơ Đạo cũng như thời tiết bốn mùa trong một năm vậy. Tất nhiên rất trọng-yếu.
“Trong Pháp-Chánh-Truyền Chí-Tôn lập Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài, Hội-Thánh Hiệp-Thiên-Đài, mà trước khi Chí-Tôn đến gieo truyền mối Đạo là Thiên-điều đã định mở cửa Thập nhị khai thiên đặng đem cơ cứu khổ để tại mặt thế-gian này mà cứu vớt toàn cả Cửu nhị ức nguyên nhân, con cái của Ngài, Chí-Tôn giao phó cho Hiệp-Thiên-Đài, mà trong Chức-sắc Hiệp-Thiên-Đài có 15 người kể luôn (HP) Hộ-Pháp, (TP) Thượng-Phẩm, (TS) Thượng-Sanh. Đứng vào vị trí ở tam giác trong cùng của đồ hình.
 
  
Trọng yếu là thâu mấy vị Tông đồ:
Đức Hộ-Pháp nói:
“Khi Đức Chí-Tôn đến với chúng tôi, Đức Chí-Tôn mở ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ chớ không phải mở Đạo Cao-Đài.
Tới chừng Ngài biểu chúng tôi cầm một cây Cơ và một ngọn bút đi các nơi thâu Môn-Đệ. Trọng-yếu của Ngài là thâu mấy vị Tông-đồ có sứ-mạng trong Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ làm môi-giới độ Đạo sau này. Đức Chí-Tôn biểu chúng tôi phò loan đặng Ngài dùng quyền năng kêu gọi mấy vị Tông đồ đó. Quả nhiên chẳng bao lâu, có đủ Thập Nhị Thời Quân hiển hiện ra, trong số các vị Thời quân ấy có Cao Tiếp-Đạo ở tại Kiêm biên chớ không phải ở Sài-gòn.
“Ngày nay Đức Chí-Tôn đến, Ngài không giáng thân như các lần trước, mà giáng linh bằng HUYỀN DIỆU CƠ BÚT. Vì lẽ đó Ngài phải lập Hội-Thánh để làm Thánh Thể cho Ngài.”
Thầy dạy:
“Thầy lại nhắc cho các con hay rằng: Trong Thập Nhị Thời Quân, đâu đó đều có sắp đặt, nếu không phải mấy đứa phò-loan của Thầy đã định thì các Thánh-ngôn do nơi khác mà ra đều là không phải lời của Thầy nói. Con phải đề phòng cẩn thận, nghe à!
Thầy hằng nói cho các con biết, việc CƠ BÚT là việc tối trọng, nếu không có Chơn-linh quí trọng thì thường có Tà quái xung nhập mà khuấy rối làm cho thất nhơn tâm, lại còn một điều đáng quan phòng nữa là trong mấy đứa phò-loan cũng có đứa không dè-dặt, tưởng CƠ BÚT là việc khinh thường làm thế nào cũng đặng, rồi muốn lấy đó mà cầu hỏi những điều vô vi, nên cũng có nhiều khi vì đó mà sanh biến trong Đạo.
Thầy nói cho các con hiểu bậc Chơn Thánh mà phải đọa trần nếu không đủ tánh chất để dìu-dẫn nhơn sanh thì cũng chưa xứng đáng cầm bút cho Thầy truyền Đạo. Các con nghe à!”
Đi thâu Thập Nhị Thời Quân rồi Đức Chí-Tôn mới mở Đạo.
Hơn nữa khi Chí-Tôn đến:
“Lập Pháp-Chánh-Truyền giao cho Hiệp-Thiên-Đài gìn-giữ trong đó có diệu-pháp của Chí-Tôn đến lập vị cho con cái của Người tại thế-gian này. Ngài mượn xác thịt của con cái Ngài tổng hợp lại cho có trật-tự, có đẳng-cấp tức nhiên là lập Thánh-thể của Ngài; các phẩm-trật có liên quan với các phần-tử, tức nhiên Hội-Thánh tổng hợp lại là Thánh-thể của Ngài, mà hễ đạt quyền được tức nhiên về với Ngài được.
Ấy vậy, Pháp-Chánh Hiệp-Thiên là phương định vị, lập quyền đặng hiệp một con cái của Chí-Tôn cùng Chí-Tôn vậy”
“Hiệp-Thiên-Đài là hình-trạng của Ngọc Hư Cung tại thế, ấy là cửa mở cho các chơn-linh vào đặng đi đến Tam thập lục thiên, Cực-Lạc thế giới và Bạch-Ngọc-Kinh là nơi chúng ta hội-hiệp cùng Thầy hay là chỗ ải địa đầu ngăn cản các chơn-linh chẳng cho xâm-phạm đến đường Tiên nẻo Phật.
Lòng từ-bi của Thầy để cho có kẻ rước là Thượng-Sanh, người đưa là Thượng-Phẩm và người dẫn nẻo mở đường cứu độ là Hộ-Pháp đặng đem cả con cái của Thầy về giao lại cho Thầy, kẻo Thầy hằng ngày trông đợi.
Còn luận theo tính chất thì nó là một cái Tòa lựa chọn người lương-sanh đem vào hiệp làm một với Cửu-Trùng-Đài, lập vị cho cả Tín-đồ; phần xác phù-hợp với phần thiêng-liêng, un-đúc giữ-gìn cho các lương-sanh ấy nhớ cựu-phẩm mình hầu buổi chung-qui Hộ-Pháp mở cửa Bát-quái-đài đem tên tuổi ấy vào thờ cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cho xứng phận.
Hễ Đạo còn ắt tên tuổi cũng còn, cái cơ đắc Đạo tại thế cũng do nơi ấy vậy”.
Nhiệm-vụ của Thời-quân được Ngài Khai-Pháp giáng cơ xác nhận
“Ngày Bần-Tăng về Chí-Tôn mới rõ quyền-năng Thiên-triều vô biên. Chính Bần-Tăng rón-rén bước vô Bạch-Ngọc-Kinh phải nhờ chơn-linh Vi-Hộ dẫn tấn. Từ đây mới biết Chí-Tôn phần nào và được thấu-đáo nhiệm vụ của Thời-quân, chẳng những nơi thế-gian này mà còn nơi cõi Thiên nữa. Như thế mới khiếp sợ trách-vụ mình.
Nếu quí vị được thấy thì tưởng không còn muốn ở cõi trần nữa làm gì. Vậy Bần-Tăng ước mong quí Bạn Thời-quân dòm về hướng Chí-Tôn để rộng quyền làm tròn Thiên-soái-mạng”.
Ảnh dưới đây là nơi thờ Chư vị Chức-sắc Đại Thiên-phong Hiệp-Thiên-Đài.
 
  
“Khi mở cửa Bí-pháp ấy Chí-Tôn để trọn quyền cho Diêu-Trì-cung thay quyền cho Cửu phẩm Thần Tiên cùng Phật-vị.
Đối chiếu lại là Hiệp-Thiên-Đài thay quyền cho Vạn-linh: Pháp, Đạo, Thế.
- Pháp thì Hộ-Pháp.
- Đạo thì Thượng-Phẩm.
- Thế thì Thượng-Sanh
Ngôi vị của Tam quyền, có thể đã định sẵn là: Đạo bên tay mặt, Thế bên tay trái (của Hộ-Pháp), còn Pháp thì tại trung ương.
Vậy thì Khai-Pháp đặng quyền ngồi chính giữa. Một ngày kia nếu cả thảy qui vị thì cũng sắp như thế. Thiên Tôn xem lại địa-vị của họ nơi Đền-Thánh mà sắp thì đúng chơn-pháp”.
Ngài Hiến-Pháp nhận-định về ba vị Chưởng quản ba chi của Hiệp-Thiên-Đài:
“Từ ngày lập Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ đến nay, hệ thống tổ-chức của Tòa-Thánh Tây-ninh đều căn-cứ vào Luật-pháp chơn-truyền mà lập thành Hội-Thánh, trên có một vị Chức-Sắc cao cấp nhứt trong Đạo cầm quyền thống-lãnh toàn Đạo như Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc, kế đến Đức Thượng-Phẩm Cao-Quỳnh-Cư và Đức Thượng-Sanh Cao-Hoài-Sang.
Tưởng cũng nên hình dung lại sứ mệnh và hành trình của các Ngài:
Đức Phạm Hộ-Pháp cầm quyền về chi Pháp:
Ngài đã phán-quyết với một đức tính công-bình đi đôi với lòng thương-yêu vô tận; gắn liền trên mọi hình thức lồng trong những bài Thuyết-đạo làm cho nhơn-sanh rất thỏa-mãn và tận tâm phục-vụ theo thuyết-định của Đức Ngài, nhân sanh không bao giờ quên được công-đức của Đức Ngài vậy.
Đức Cao Thượng-Phẩm cầm quyền về chi Đạo:
Ngài đã về trước nơi Thiêng-liêng hằng sống, lưu lại cho Đạo một khối tinh-thần cao-thượng vô biên, là sự xây dựng đầu tiên biết bao khổ-hạnh, thử-thách; nhưng Đức Ngài không nản, quyết tâm tạo cho được một nguồn hạnh-phúc chung cho Nhơn-sanh tức là Đạo-nghiệp ngày hôm nay.
Đức Cao Thượng-Sanh cầm quyền về chi Thế:
Là một gương-mẫu tinh-hoa của thế gian. Sự Từ bi, Bác-ái của Đức Ngài được nung-nấu và in sâu trong tâm hồn của toàn Đạo. Từ tư-tưởng phát sinh ra hành-động được mô-tả trong văn thi, kinh điển để lưu lại cho thế nhân một sự dung-hòa rất hữu-ích cho việc tu thân và trong trường-hợp tiếp nhân xử kỷ.
Đức Chí-Tôn đã dùng ba vị Tướng-soái sẵn có những báu vật vừa Đức-tin vừa đức tánh qui-tụ lại thành một tinh-thần tối cao, tối trọng biểu-tượng nên một hệ thống giá-trị đạo-đức có thể nói là một lập-trường Thương yêu vững-chắc để bảo-đảm hạnh-phúc chung cho nhân loại
Giờ đây ba vị Tướng-soái đã triều-thiên, nên mới đến vai-tuồng của Thập Nhị Thời Quân phải đảm-đương trọng-trách cầm quyền Chưởng-quản Hiệp-Thiên-Đài là quyền tối cao của Hội-Thánh đương kim. Điều ấy cũng do theo công-lệ “tiền tấn hậu kế”.
Đêm 14 rạng 15 tháng 3 năm Bính-Dần (1926) sau khi lập Pháp-Chánh-Truyền Hiệp-Thiên-Đài, Đức Chí-Tôn giáng dạy như vầy:
"Hiệp-Thiên-Đài là nơi Thầy ngự, cầm quyền Thiêng-liêng mối Đạo, hễ Đạo còn thì Hiệp-Thiên-Đài còn.” "Thầy đã nói Ngũ-Chi Đại-Đạo qui phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh-giáo mà lập ra Phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa."
"Lại nữa, Hiệp-Thiên-Đài là nơi Giáo-Tông thông công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Lục thập thất Địa cầu, Thập Điện Diêm Cung mà cầu siêu cho cả nhơn loại."
"Thầy đã nói sở dụng thiêng liêng, Thầy cũng nên nói sở dụng phàm trần của nó nữa.
Hiệp-Thiên-Đài dưới quyền Hộ-Pháp Chưởng quản, tả có Thượng-Sanh, hữu có Thượng-Phẩm. Thầy lại chọn Thập Nhị Thời Quân, chia ra làm ba:
- Phần của Hộ-Pháp chưởng quản là Chi Pháp:
Lo bảo vệ Luật Đời và Luật Đạo, chẳng ai qua luật mà Hiệp-Thiên-Đài chẳng biết.
- Thượng-Phẩm thì quyền về phần Đạo: Lo về phần Đạo nơi Tịnh Thất, mấy Thánh Thất đều xem sóc chư Môn đệ Thầy, bênh-vực chẳng cho ai phạm luật đến khổ khắc cho đặng.
- Thượng-Sanh thì chưởng quản Chi Thế, lo về phần Đời.
Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành đạo.
Thầy cho các con biết trước rằng, hễ trọng quyền thì ắt trọng phạt."
Từ đây, về mặt hữu hình, ba vị Chưởng quản tối cao của Hội-Thánh Hiệp-Thiên-Đài không còn nữa, sau khi Đức Thượng-Sanh qui Thiên và Đạo Cao-Đài mất thêm một bực vĩ-nhân nữa.

II- Thập Nhị Bảo Quân 十 二 保 君

A: The twelve Technical Academicians, twelve Protectors.
P: Les douze Académiciens techniques, douze Protecteurs.
Ngoài Thập Nhị Thời Quân ra còn có 12 vị Bảo Quân dưới quyền chỉ huy của Giáo-Tông và Hộ-Pháp.
Thập Nhị Bảo Quân là 12 vị Bảo Quân do Đức Chí-Tôn lập nên tạo thành Hàn Lâm Viện của Đạo Cao Đài.
Khi thỉnh giáo về Thập Nhị Bảo Quân, Đức Hộ-Pháp có lời phê về Thập Nhị Bảo Quân là:
“Toàn thể Bảo-Quân là Hàn-Lâm-viện, mỗi vị có sở thức, sở năng ấy là điều khác nhau đặc biệt, tỷ như: Huyền-linh-quân nghĩa là Thần linh hồn khác với Bảo Học quân là thuộc về khoa-học hay thực tế học.”
Bảo-Quân có 12 vị gọi là Thập Nhị Bảo Quân là:
  1. Bảo Huyền-linh-quân (Science mystique)
  2. Bảo-Học-quân (Science physique – Instruction Publique)
  3. Bảo Thiên-văn quân (Astrologie)
  4. Bảo Địa Lý quân (Géologie)
  5. Bảo Sanh Quân (Santé puplique)
  6. Bảo Cô quân (Chevalerie)
  7. Bảo Văn Pháp quân (Belles lettres)
  8. Bảo Y quân (Médecine)
  9. Bảo Nông quân (Agriculture)
  10. Bảo Công quân (Arts et Métiers)
  11. Bảo Thương quân (Commerce et Industrie)
  12. Bảo Phong hoá quân (Philosophie) hoặc còn gọi là Bảo-Sĩ-Quân tức là Triết-học.
Nếu một ngày một đêm có 24 giờ, thì 12 giờ ban ngày là Dương, 12 giờ ban đêm là Âm. Đó là định luật của đất trời. Giờ đây tổ chức trong cơ quan Hiệp-Thiên-Đài cũng tương tự như vậy:
- Thập Nhị Thời Quân ấy là Dương.
- Thập Nhị Bảo Quân ấy là Âm.
Âm Dương tương hiệp mới phát khởi Càn khôn. Bất cứ trường hợp nào vẫn có Âm Dương không lìa nhau.
Phẩm vị Thập Nhị Bảo Quân do Đức Chí-Tôn hay Quyền thiêng liêng giáng cơ phong thưởng, giống y như Thập Nhị Thời Quân Hiệp-Thiên-Đài, chớ không do cầu phong hay cầu thăng hoặc công cử như bên Chức sắc Cửu-Trùng-Đài và Cơ quan Phước-Thiện.
Thập Nhị Bảo Quân đối phẩm với Phối-Sư Cửu-Trùng-Đài.
Khi chầu lễ Đức Chí-Tôn tại Tòa Thánh, chư vị Bảo Quân đứng tại chỗ Hiệp-Thiên-Đài, dưới các bực của chư vị Thời Quân và đứng sắp hàng phân ra hai bên tả hữu của chư vị Thời Quân. Nếu chỉ có 1 vị Bảo Quân chầu lễ thì vị ấy đứng phía bên Chi Thế, tức bên phía Đức Thượng-Sanh
Chú giải Pháp-Chánh-Truyền:
“Ngoại Pháp-Chánh-Truyền, dưới quyền Hộ-Pháp thì còn Bảo Văn Pháp Quân (Arts et Belles Lettres), trước phong đỡ làm Tiếp Lễ Nhạc Quân, nay đã vào chánh vị đặng chỉnh đốn Lễ Nhạc lại cho hoàn toàn cho tới ngày thành Đạo.
Bảo Sanh Quân (Assistance Publique), Thầy phong đỡ làm Tiếp Y Quân, đặng đợi ngày thành Đạo.
Bảo Học Quân (Enseignement) và nhiều Chức sắc khác nữa Thầy chưa lập.
Các vị ấy Hộ-Pháp đang chờ đến.”
1- ĐẠO PHỤC của BẢO VĂN PHÁP QUÂN
Chú giải Pháp-Chánh-Truyền:
Bộ Đại phục của Văn Pháp toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo như các Chức sắc nơi Hiệp-Thiên-Đài, song hai bên ngay chính giữa có kết một bông sen 5 cánh, trên mỗi bông sen thì thêu Thiên nhãn Thầy, ngay đường giữa trước mão cũng kết một bông sen nhưng khỏi thêu Thiên nhãn. Cả thảy 3 bông sen trên mão.
Lưng đai Bạch Tuyết Thần Quang bằng hàng trắng, bề dài 3 thước 3 tấc 3 phân, bề ngang 3 tấc 3 phân 3 ly, buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen 5 cánh.
Chơn đi giày Vô ưu cũng bằng hàng trắng, trước mũi mỗi chiếc cũng có một bông sen nhỏ hơn một thí.
2-ĐẠO PHỤC của BẢO SANH QUÂN
Chú giải Pháp-Chánh-Truyền:
Bộ Đại phục của Bảo Sanh Quân toàn bằng hàng trắng. Đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo giống như các Chức sắc Hiệp-Thiên-Đài, ngay giữa mão, từ bìa lên 4 phân thêu một Thiên nhãn, hai bên mão thêu hai Thiên nhãn nữa, cả thảy là ba.Vòng theo vành mão cột một sợi dây Tiên thằng (bề ngang 8 phân, bề dài 2 thước) buộc thế nào chừa Thiên nhãn ngay giữa mão ra,cho hai mối thòng xuống 2 bên vai.
Lưng đai Song Quang Thần Thông, nghĩa là một đường lụa trắng, kết hai bên hai vòng Vô vi.
Chơn đi giày Vô ưu cũng bằng hàng trắng.
3-Số vị Bảo Quân đã được Đức Chí-Tôn ân phong:
- Bảo Văn Pháp Quân: Ông Cao Quỳnh Diêu Đắc phong 1930
- Bảo Sanh Quân: Bác sĩ Lê Văn Hoạch, Đắc phong 1930
- Bảo Cô Quân: Luật sư Dương Văn Giáo.Đắc phong 1930
- Bảo Học Quân:Luật sư Nguyễn văn Lộc, đắc phong 1972
- Bảo Y Quân: Bác sĩ Trương Kế An (bút hiệu Tuyết Văn Mặc Khách) đắc phong 1972
- Bảo Nông Quân: Ông Đặng Văn Dắn, đắc phong 1972
4- Thánh giáo trong Đàn cơ Phong Thánh: tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 15-11-Tân Hợi (dl 1-1-1972) hồi 20 giờ. Phò loan: Ngài Hiến-Pháp và Khai-Đạo. Hầu đàn: Ngài Bảo-Đạo, Hiến-Đạo, Đầu-Sư, chư Chức sắc HTĐ, CTĐ, PT và chư Chức việc cùng tín đồ nam nữ.
Đức Phạm Hộ-Pháp giáng cơ:
"......................
Ngài Hiến-Đạo bạch: Cầu xin Đức Ngài phong vị chánh thức cho 3 vị Bảo Quân.
Đọc danh sách:
* Trương Kế An: đắc phong Bảo Y Quân.
* Nguyễn Văn Lộc: đắc phong Bảo Học Quân.
* Đặng Văn Dắn: đắc phong Bảo Nông Quân.
Ngài Hiến-Đạo bạch: Cầu xin Đức Ngài chỉ giáo về sự đối phẩm và Tiểu phục của chư vị Bảo Quân.
- Đối phẩm Phối-Sư. Tiểu phục cũng sửa lại còn một Thiên nhãn như Hộ Đàn.
Ngài Hiến-Đạo bạch: Xin Đức Ngài chỉ định chư vị Bảo Quân đứng cúng thế nào?
- Bảo Quân đứng hai bên tả hữu dưới cẩm bực của Hiệp Thiên, như có một thì đứng bên Chi Thế."........
Trích Thánh giáo Đàn cơ tại Giáo-Tông Đường đêm 11-Giêng-Nhâm Tý (dl 23-2-1972) hồi 20 giờ 35 phút. Phò loan: Ngài Hiến-Pháp và Khai-Đạo. Hầu đàn: Bảo-Đạo, Hiến-Đạo.
Đức Phạm Hộ-Pháp giáng cơ:
".......................
Ngài Bảo-Đạo bạch: Xin Đức Ngài chỉ dạy về phẩm Hiền Nhơn và nhiệm vụ của chư vị Bảo Quân?
- Bần đạo hứa sẽ định sau thì phải chờ một thời gian nữa sẽ giải thích trước mặt các Chức sắc tân thăng và có cả mấy vị Bảo Quân, vì vấn đề nầy liên quan mật thiết với nhiệm vụ của Hiền Nhơn.
- Bảo Sanh Quân cũng có công việc từ thiện Phạm Môn
- Bảo Y Quân cũng có nhiệm vụ từ thiện.
- Bảo Học Quân thì trùm hết.
- Bảo Nông Quân thì vai chánh về lương điền, công nghệ và luôn Công, Thương, nên mới có sự liên hệ với nhau.
Cửu-Trùng-Đài cũng vậy, vì bên ấy cũng có Học, Y, Nông, v.v...
Tất cả đều là công việc chung của Đạo. Chư Chức sắc cứ tùy nhiệm vụ mà thi hành đúng theo tôn chỉ thì sẽ thành công.” Thăng